Archive for category Bạn bựa

XÓM THỐI (#5)

LƯU Ý: MỌI SAOCHÉP PHẢI GHI RÕ NGUỒN VÀ TÁCGIẢ

*Truyện ngắn by Hoàng Tuấn Dũng*


Photo Unknown. Source Somewhere In The Net

XÓM THỐI (V)
TRỘM GIÓ

Tân dẫn Nhược độtkích căn gác hai-tầng chuồng-chim sát sau nhà mình, tuyênbố, “Đây mới khoái, vừa Đóng Gạch vừa dòm bà-già tao với con Ngân nấu-nướng, tưởng thò tay véo được mũi haha, mày đừng gọi tao bà-già nghe thấy. Anh Pháo em chai bia” (*).

***

Vợ-chồng Pháo nuôi hai cô phò trên gác, nói lóng là Chăn Trâu. Đón khách chơi nói là Đi Cày. Các cô mắc bệnh nói là Trâu Ốm. Đuổi các cô thay lứa nói là Giết Trâu.

Mẹ Tân mấy lần phán, “Nhà thằng này mổ lậu trâu nghé sao ý, con Ngân đi chợ chọn thịt bò kỹ kỹ”.

***

Trước khi biết Chăn Trâu, nhà Pháo hay bị mất trộm. Mất từ chậu cây bỏng, cái xuchiêng ngoài hiên, đến niêu cơm-nguội, lọ muối-vừng trong chạn. Vợ Pháo chửi ngoangoắt. Pháo đấm ngực gào, Giời ơi Giời, chó cắn giẻ rách, Giời ơi Giời.

Pháo chăng dây-điện trần quanh tường, trộm cắt dây-điện kết hình ông-sao liệng vào phi nước (**). Pháo đào hầm-chông dưới cánh cổng, trộm cắm mũi chông củ khoai hà (***). Pháo nằm xó bếp rình trộm, trộm thó chiếc quạt con-cóc cuối giường vợ (****). Pháo tiêm thuốc-chuột đầy nải chuối cúng Thổcông, trộm sực chuối ném vỏ lên đình màn (*****).

Nhiều người nói, xưa trộm chừa hàng-xóm, giờ trộm đếch chừa ai. Vợ Pháo càng chửi tợn.

Nhà không còn gì đáng tiền, vợ Pháo bàn, “Nuôi lợn. Bắt nó kêu váng, trộm phải chịu”.

Pháo bèn mua con lợn, vác lên gác nuôi.

Vợ Pháo chăm con lợn lắm, ngày tắm hai bận, cho ăn trong thau, ỉa xối cứt, ngủ đắp mền.

Sang tháng, con lợn lớn tướng, nặng cả tạ. Pháo bảo vợ, “Con này bán phải giết trên gác, chứ đếch lôi qua lỗ cầu-thang được. Bán xong tao đong con nữa. Mày múc Chỉ vàng. Đổ thùng gạo. Còn đâu may áo con Ti con Tét”.

Vợ-con Pháo thích lắm, cả ngày xoay chuyện vàng, gạo, áo mới.

Mỗi tối, nhà Pháo lại thảoluận cách xẻ thịt con lợn, tính để cỗ lòng mời hàng-xóm, kho nửa cái chân-giò, còn bán tất.

***

Đêm nọ, vợ-chồng Pháo mơ được giết lợn. Con lợn không nặng một, mà tới bốn tạ. Pháo chọc tiết, vợ Pháo cạo lông, hai đứa con lấy cưa cưa chân-giò. Hàng-xóm xem đông nghẹt. Lợn engéc vui tai. Thịt khuân từ gác xuống mấy tiếng mới hết. Bộ lòng to quá, cái chân-giò to quá, Pháo tiếc, đổi kếhoạch, bảo vợ chỉ để xô tiết luộc biếu hàng-xóm, và xẻo cái mũi hếch kho mặn ăn dần.

Sớm sau, nhà Pháo lên gác thăm lợn như thườnglệ. Chả thấy con lợn đâu. Góc phòng có xô tiết và cái mũi lợn gói trong lá khoai-ngứa.

Vợ-chồng Pháo la toáng. Hàng-xóm sang, kinhngạc, tưởng cô-chú đêm qua giết lợn? Đương đêm hò-hét chọc tiết xẻ thịt? Còn kêu luộc xô tiết mời Xóm?

Pháo nói, hay mình giết rồi? Xô tiết đây? Cái mũi đây?

Vợ Pháo khóc ầm, thế vàng đâu? Mười ngón-tay đây, vàng đâu?

Con Pháo khóc ầm, áo con đâu?

***

Vợ-con Pháo khóc quá, thấu đến tai Phật. Phật hiện-ra bảo:

Phàm là kẻ nghèo-hèn, phải biết phận nghèo-hèn. Cố mà làm cho bớt nghèo. Cố mà sống cho bớt hèn. Đã nghèo-hèn thời đừng thù-hằn người nghèo-hèn khác. Trộm của người nghèo là sinhkế. Trộm của người giàu mới là bảntính. Hãy ngỏ cửa không khóa. Đừng chăng dây-điện đừng cắm hầm-chông. Chăn lợn còn khổ thời chăn trâu. Chăn trâu vẫn khổ thời chăn hổ..

Buổi chiều, Pháo quyết xuống chợ Gánh lùng trâu nuôi. Ai cũng cười Pháo hấp. Trâu, ngoài kéo cày, còn dùng vào gì? Vắt sữa? Coi vườn? Bày cảnh?

Tàn chợ, Pháo gặp một người quêmùa gọngàng, thầnthái ungdung. Nghe Pháo mua trâu, người ấy bảo Pháo thuê chiếc Minkhơ theo ông (******). Pháo đi ba hôm, chẳng hiểu sao mang về hai cô gái.

Sau đận đó, nhà Pháo mở toang cổng ngày đêm. Cơm chuối muối quạt vứt bừaphứa. Không bị trộm thêm lần nào.

Pháo nói, giờ chỉ còn nhà thằng Tân trộm của mình.

Vợ Pháo hỏi, trộm gì?

Pháo cười, trộm gió!

XÓM THỐI (VI)
PHÀM ĐẠO

Pháo từ bữa đụng Phật, thì tín lắm. Kể ơn khắp chỗ, dựng ba bốn ban-thờ, tháng cúng Chùa Họa hai cân táo.

(Dừng bốt câu vìu)

(Hoàng Tuấn Dũng, Hải Phòng 1992)

***

Chúthích by An Hoàng Trung Tướng 2010:

(Coi phần trước chỗ nài)

(*) Đóng Gạch: Tỉn. Thổngữ 199x (x>0).

Bà Già (Bà-già): Mẹ. Thổngữ 198x (x>5).

(**) Phi Nước: Thiếtbị chứa nước trứdanh của quầnchúng Bắc Lừa 195x-199x, dungtích 200 lít, chế từ thùng dầu “luyn” Sô Liên.

(***) Hầm Chông (Hầm-chông): Thiếtbị giết Mẽo-Ngụy-Phỉ trứdanh của bộđội Ông Cụ 195x-198x, chếtác từ tre, gỗ, sắt rọn hoắt, có tẩm cứt-gà-sát đặng thêm phần Simacai.

(****) Quạt Con-cóc: Thiếtbị chống nóng trứdanh của quầnchúng Bắc Lừa 195x-199x, côngsuất ngang một cây quạt mo, nhưng chạy điện.

(*****) Thổcông: Aka Thần Nhà. Lừa 198x dựng “Ban” Thổcông ngoài giời nhế các cô nhế.

(******) Minkhơ: Xe-máy Sô Liên 250cc, trứdanh một thuở Thiênđàng.

Phụlục

Danhsách Từ Dính trong bài:

– Độtkích: (Đột kích).
– Tuyênbố: (Tuyên bố).
– Xuchiêng: (Xu-chiêng).
– Ngoangoắt: (Ngoa ngoắt).
– Thổcông: (Thổ công).
– Thảoluận: (Thảo luận).
– Engéc: (Eng éc).
– Kếhoạch: (Kế hoạch).
– Thườnglệ: (Thường lệ).
– Kinhngạc: (Kinh ngạc).
– Sinhkế: (Sinh kế).
– Bảntính: (Bản tính).
– Quêmùa: (Quê mùa).
– Gọngàng: (Gọn gàng).
– Thầnthái: (Thần thái).
– Ungdung: (Ung dung).
– Bừaphứa: (Bừa phứa).
– Thổngữ: (Thổ ngữ).
– Thiếtbị: (Thiết bị).
– Trứdanh: (Trứ danh).
– Quầnchúng: (Quần chúng).
– Dungtích: (Dung tích).
– Bộđội: (Bộ đội).
– Chếtác: (Chế tác).
– Côngsuất: (Công suất).
– Thiênđàng: (Thiên đàng).

Danhsách Từ Ghép trong bài:

Bà-già.
Vợ-chồng.
Vợ-con.
Cô-chú.
*
Hàng-xóm.
Cơm-nguội.
Muối-vừng.
Khoai-ngứa.
Chân-giò.
Dây-điện.
Hầm-chông.
Ông-sao.
Cầu-thang.
Thuốc-chuột.
Ban-thờ.
Xe-máy.
Ngón-tay.
Cứt-gà-sát.
*
Hai-tầng.
Chuồng-chim.
Con-cóc.
Nghèo-hèn.
*
Nấu-nướng.
Hiện-ra.
Hò-hét.
Thù-hằn.

***



Advertisements

Bạn nghĩ gì về bài viết này?

XÓM THỐI (#4)

LƯU Ý: MỌI SAOCHÉP PHẢI GHI RÕ NGUỒN VÀ TÁCGIẢ

*Truyện ngắn by Hoàng Tuấn Dũng*


Photo Unknown. Source Somewhere In The Net

XÓM THỐI (IV)
THU THIỆT THÒI

Nhiều lần nàinỉ, Nhược mới được Bật nhận nhập Lò.

Bật huấnthị, luyện võ là luyện Tâm, không luyện Chi.

Nhược không hiểu. Bật giảng, Tâm là trái-tim, Chi là cánh-tay cẳng-chân. Dạy võ cho một trái-tim khỏemạnh đểucáng khác nào mở chuồng cho con hổ dữ. Dạy võ cho trái-tim Phật-tử dẫu không tay không cẳng thời vẫn sướng lắm thay.

Nhược há mồm. Bật cáu, “Mẹ mày. Đầu đặc thế thảo nào lao đả như điên như cuồng. Biết mày chịu được mấy đấm không? Cút về học chữ”.

Nhược van, cháu quên hết chữ, chú tha cháu.

Bật phán, cho mày theo thằng Tân.

Tân là trò cưng của Bật, hơn Nhược hai tuổi, đang học Đạihọc Kinhtế. Cha Tân làm Cánbộ Lớn, có nhà oai ngoài phố chính, rìa Xóm.

Buổi đầu tập cùng nhau, Tân nện Nhược thẳng tay, Nhược không kêula. Tân bảo, mày chơi được, cho theo tao. Nhược gọi Tân bằng Anh rất cungkính.

Sau một tháng, Tân dạy Nhược đọc được báo, phi được xe-máy.

***

Một bữa, Tân hỏi, mày kiếm Mầu thế nào?

Nhược đáp, trước em gánh nước, giờ vôi-vữa phụ xây, dọn chuồng-xí, đóng xe-bò, thông bể-phốt, câu trộm điện, mót than vãi, chặt cây khô.

Tân hỏi, tiền đâu đánh bạc chơi gái?

Nhược đáp, em chưa đánh bạc, chơi gái mới thử.

Tân bảo, tao dạy mày kiếm Mầu.

Nhược đáp, em nghe anh.

Tân nói, “Muốn kiếm Mầu, phải hưởnglạc cái đã, chất ăn-chơi ngấm vào haha, mày mới Máu”.

Tân dẫn Nhược đi hút thuốc-phiện. Nhược không thích trò này. Nó thấy đắng.

Tân dẫn Nhược đi đánh bạc. Nhược thấy lạ. Đám bạc có kẻ mồm vuvơ hát nhạc xuyêntạc, tay hữnghờ thả tiền trăm tiền chục, rất phongđộ. Có kẻ ngồi xếp-bằng, gập đầu sát Chiếu, chun mũi ngửi tiếng Con-vị reo loongcoong trong Đĩa, đắmđuối. Có kẻ mânmê đáy túi rỗng, đỏ mắt dõi những tờ xanh tờ tím chuyển loayhoay từ phía Chẵn qua phía Lẻ. Có kẻ cười xunxoe nhận bốthí đồng nhàu (*).

Lạ nhất là Tiền. Có cọc tiền cao hàng gang để Ông Béo gác chân. Có tập tiền phô cờ Tây cờ Mỹ. Có xấp tiền mới khựa chưa xé băng. Có nắm tiền xoăn như lá cải.

Tân nhiều tiền, quẳng Nhược một cục, cho cùng đánh Xóc Đĩa.

Tân toàn thua. Nhược toàn được. Nhược chỉ đợi Tân bỏ Cửa nào là nó bỏ Cửa lộn lại. Vài bữa Tân biết, mắng Nhược, “Mày bậy, chó phản chủ, trả tiền tao”. Nhược móc hết tiền trả Tân. Tân nghĩ một hồi, chỉ cầm một tệp mỏng, “Còn phần mày”.

Tiền thắng bạc ấy, Nhược sắm một Chỉ vàng. Nắm cái nhẫn một-chỉ rời hiệu vàng, chân Nhược run bắn. Nó chọn một góc phố vắng, xỏ nhẫn vào đầu ngón-trỏ bàn-tay phải, hảhê ngắmnghía nửa tiếng, xong đeo nhẫn vào ngón-giữa bàn-tay trái, bước ba bước liếc một nhát.

Về, mẹ Nhược hỏi tiền đâu mua nhẫn. Nhược bảo, đi làm cho anh Tân. Mẹ lại hỏi anh Tân ở đâu. Nhược bảo, anh Tân ở trên Giời, con Ông Giời, giỏi như Giời.

Nhược thích nhất theo Tân kiếm gái. Quậy thahồ. Bóp ngực cô này, rờ đùi cô nọ. Như người-nhà.

***

Tân bảo Nhược, hôm nay mày làm Mầu.

Tân lấy xe-máy, bắt Nhược chở đến gần một kháchsạn loàngxoàng ở Hải Sơn, khu nghỉ-mát nổi-tiếng cách Thànhphố hai chục câysố, tìm một quán giải-khát kín, giấu xe, ngồi dòm.

Có chiếc xe-hơi xám chui cổng kháchsạn. Tân nói, “Tao về, mày vào kháchsạn ngay, bám Ông Sếp sắp ra xe, ông đó làm gì mày phải nhớ thật kỹ, ba giờ tao xuống”.

Chiều, Tân đón Nhược, hỏi, mày thấy gì?

Nhược đáp, “Nó lên phòng 203, một tí có con áo xanh gõ cửa, 12 rưỡi chúng nó Ngược” (**).

Tân cười hệchhệch, “Xong. Công mày hai trăm. Thưởng thêm một Choác” (***).

Nhược ngạcnhiên, ông nào đấy anh Tân?

Tân bảo, Ông Giời, đừng tòmò.

***

Nhà Tân có ba anh-em. Tân mamãnh bao nhiêu, hai em nó đầnđộn bấy nhiêu.

Ngày Tân bé, nhà nó trong Xóm. Cha nó làm loongtoong Sở V, quanh năm dận dép nhựa cắt quai-hậu.

Tân vẫn nhớ, tốitối từ Sở về, cha thường quăng con xe ghẻ vào góc bếp, tụt quần-dài nằm ghếch chân thành giường-ba-xà, ngậm một thìa đường cho dịu đói chầu cơm, mồm lẩmbẩm Bíthơ, Giámđốc.

Tân hơi biết tại sao nhà nó to dần và tiến dần khỏi Xóm. Năm nó mười lăm tuổi, cha nó xây ngôi nhà bâygiờ.

Một trưa, hè năm kia, Tân gặp cha lảlơi quán Nghiêu Trung Lình Dê Cậng Khỉ bên một bà mặc đầm. Nó kể vui với mẹ. Nào ngờ mẹ đập đầu dọa tựvẫn, dọa báocáo ông X, ông Y, ông Z. Cha thanhminh suốt một đêm.

Hôm sau, cha rủ Tân tới quán Chương Càphê, tháiđộ rất trịnhtrọng. Ông bảo rằng chẳng có gì đâu, rằng cô đó là nhânviên đứngđắn, rằng vânvân. Ông cho Tân hai triệu, bảo để học võ học đàn, đừng đàngđúm adua vôbổ. Cuối cùng, ông nói, “Mẹ anh ươn-người. Anh đừng kể những chuyện làm Mẹ buồn, Ba không tậptrung nổi”.

Thoạt đầu, Tân nghĩ thương cha. Thời trẻ cúp học đi trận, ra lính lậnđận bao năm. Trước khi được ngảngốn nơi ghế-sau xe-hơi côngvụ, hẳn ông chưa kịp sờ má mống gái nào, ngoài mẹ Tân. Đời vào thu, ông thấy mình thiệtthòi. Mẹ Tân thì mãnkinh, già chảy, đít toàn mùi bếp. Và Tân đã chiếucố cha khối vụ.

Xa dần, Tân thấy cha lạmdụng lòng tốt của nó, mà nó yêu tiền trầmtrọng, nên nó buộc cha chucấp để học nhiều món ngoài võ và đàn: ngoạingữ, đăngxinh, thiềnpháp, lái-xe, vật cổđiển..

Xa nữa, cha Tân thấy Tân lạmdụng két tiền của ông. Ông trởthành tên giánđiệp, còn Tân thành thámtử. Họ sănđuổi và nétránh nhau ngoài phạmvi Xóm, ngoài tầm nghengóng của bà mẹ bận trông nhà.

***

Tân đợi cha hết khách, lẻn vào phòng ông, chốt cửa.

Cha Tân gắt, gì thế, sao không đi học?

Tân cười, con hết tiền.

“Cái vụ năm tháng rồi, mày kể ai tin?”.

“Con kể vụ nào? Con hết tiền học, thật”.

“Cút. Học gì học nghìn môn? Tháng chục triệu?”.

“Con đùa. Con chữa xe-máy”.

“Sao chữa? Mấy trăm nghìn sao mày không có?”.

“Thằng bạn con mượn xe, ra kháchsạn K Hải Sơn, bị trộm vặt sạch đồ”.

Cha Tân trễ kính nhìn, “Gửi kháchsạn, đứa nào vặt?”.

Tân cười, “Nó gửi con Hà lớp con. Con Hà vào phòng 203 ngủ lén. Dậy thì mất tiệt, hìhì”.

Cha Tân nhẹ giọng, bao nhiêu?

Tân đáp, năm triệu thôi Ba.

Tân nheo ngắm cục mồhôi lăn từ trán xuống mũi cha. Ông nói, “Ra gọi chú Thanh”.

***

Chiều muộn, Tân phóng xe đón Nhược, hét, “Đến nhà Pháo. Bồidưỡng mày hai Choác. Hếhế. Tao mày có Cửa sống ba tháng. Cấm mày đánh bạc”.

XÓM THỐI (V)
TRỘM GIÓ

Tân dẫn Nhược độtkích căn gác hai-tầng chuồng-chim sát sau nhà mình, tuyênbố, “Đây mới khoái, vừa Đóng Gạch vừa dòm bà-già tao với con Ngân nấunướng, tưởng thò tay véo được mũi haha, mày đừng gọi tao bà-già nghe thấy. Anh Pháo em chai bia” (*).

(Dừng bốt câu vìu)

(Hải Phòng 1992)

***

Chúthích by An Hoàng Trung Tướng 2010:

(*) Chiếu, Cửa, Con-vị, Phía Chẵn, Phía Lẻ: Các thuậtngữ môn Sóc Đĩa. Mời gúc trên Mạng for details.

(**) Ngược: Đi mất. Thổngữ 199x (x>1).

(***) Choác: Cú chơi phò. Thổngữ 199x (x>1).

Phụlục

Danhsách Từ Dính trong bài:

– Nàinỉ: (Nài nỉ).
– Huấnthị: (Huấn thị).
– Khỏemạnh: (Khỏe mạnh).
– Đểucáng: (Đểu cáng).
– Đạihọc: (Đại học).
– Kinhtế: (Kinh tế).
– Cánbộ: (Cán bộ).
– Kêula: (Kêu la).
– Cungkính: (Cung kính).
– Hưởnglạc: (Hưởng lạc).
– Vuvơ: (Vu vơ).
– Xuyêntạc: (Xuyên tạc).
– Hữnghờ: (Hững hờ).
– Phongđộ: (Phong độ).
– Loongcoong: (Loong coong).
– Đắmđuối: (Đắm đuối).
– Mânmê: (Mân mê).
– Loayhoay: (Loay hoay).
– Xunxoe: (Xun xoe).
– Bốthí: (Bố thí).
– Hảhê: (Hả hê).
– Ngắmnghía: (Ngắm nghía).
– Thahồ: (Tha hồ).
– Kháchsạn: (Khách sạn).
– Loàngxoàng: (Loàng xoàng).
– Thànhphố: (Thành phố).
– Câysố: (Cây số).
– Hệchhệch: (Hệch hệch).
– Ngạcnhiên: (Ngạc nhiên).
– Tòmò: (Tò mò).
– Mamãnh: (Ma mãnh).
– Đầnđộn: (Đần độn).
– Loongtoong: (Loong-toong).
– Tốitối: (Tối tối).
– Lẩmbẩm: (Lẩm bẩm).
– Bíthơ: (Bí thơ, Bí thư).
– Giámđốc: (Giám đốc).
– Bâygiờ: (Bây giờ).
– Lảlơi: (Lả lơi).
– Tựvẫn: (Tự vẫn).
– Báocáo: (Báo cáo).
– Thanhminh: (Thanh minh).
– Càphê: (Cà-phê).
– Tháiđộ: (Thái độ).
– Trịnhtrọng: (Trịnh trọng).
– Nhânviên: (Nhân viên).
– Đứngđắn: (Đứng đắn).
– Vânvân: (Vân vân).
– Đàngđúm: (Đàng đúm, Đàn đúm).
– Adua: (A-dua).
– Vôbổ: (Vô bổ).
– Tậptrung: (Tập trung).
– Lậnđận: (Lận đận).
– Ngảngốn: (Ngả ngốn).
– Côngvụ: (Công vụ).
– Thiệtthòi: (Thiệt thòi).
– Mãnkinh: (Mãn kinh).
– Chiếucố: (Chiếu cố).
– Lạmdụng: (Lạm dụng).
– Trầmtrọng: (Trầm trọng).
– Chucấp: (Chu cấp).
– Ngoạingữ: (Ngoại ngữ).
– Đăngxinh: (Đăng-xinh, Dancing).
– Thiềnpháp: (Thiền pháp).
– Cổđiển: (Cổ điển).
– Trởthành: (Trở thành).
– Giánđiệp: (Gián điệp).
– Thámtử: (Thám tử).
– Sănđuổi: (Săn đuổi).
– Nétránh: (Né tránh).
– Phạmvi: (Phạm vi).
– Nghengóng: (Nghe ngóng).
– Mồhôi: (Mồ hôi).
– Bồidưỡng: (Bồi dưỡng).
– Hếhế: (Hế hế).
– Độtkích: (Đột kích).
– Tuyênbố: (Tuyên bố).
– Nấunướng: (Nấu nướng).
– Chúthích: (Chú thích).
– Thuậtngữ: (Thuật ngữ).
– Thổngữ: (Thổ ngữ).

***



Bạn nghĩ gì về bài viết này?

XÓM THỐI (#3)

LƯU Ý: MỌI SAOCHÉP PHẢI GHI RÕ NGUỒN VÀ TÁCGIẢ

*Truyện ngắn by Hoàng Tuấn Dũng*

XÓM THỐI (III)
NƯỚC MẮT ĐÁ

Đứa trai vừa chuyệntrò với vợ-suýt-cưới của thằng Hạng là thằng Nhược.

Nhược mười bảy tuổi, bé choắt, chăm, ngu có tiếng.

Trước, Nhược chuyên gánh nước thuê cho những giađình nghèo không tiền lắp nước máy hoặc thuê bơm nước, lại yếu sức và sinhhoạt tằntiện.

Laođộng của Nhược rẻ nhất trầnđời: khoản ngang hai điếu thuốc không-đầu-lọc cho một gánh bốn mươi lít nước từ bể xa trăm rưởi mét.

Thương hay quý, cũng không ai trả hơn. Kháchhàng của Nhược chẳng phải Thượngđế.

Nhược bỏ học, gánh nước thuê tự mười tuổi nên người không lớn được, trừ cái vai, một khoảng thịt rộng và phẳng cóthể gá một chiếc tivi loại nhỡ. Chân tay Nhược rắn hơn cái đòn-gánh.

Đươngnhiên, Nhược có một giađình túngbấn đông anhem cuối Xóm.

***

Mười lăm tuổi, Nhược xíchmích tay Bật dạy võ.

Bật là dân ngụcư, không rõ từ miền nào đến Xóm mở Lò võ giatruyền. Trẻcon theo rầmrập.

Bật vâmváp trắngtrẻo, nóinăng lịchthiệp, dùng đầu đập vỡ viên gạch, dân quanh Lò phục lắm.

Buổi nọ, Nhược cùng thằng em trai gánh thuê cạnh Lò võ của Bật. Thằng em nghịch để rớt cái móc-gánh xuống hố rác.

Nhược nổi điên, đánh em ngã lăn ra đường, lại bắt liếm cái móc sắt bẩn.

Mọi người can, Nhược không nghe, quyết hạnhục em.

Bật vỗ gáy Nhược bảo, thôi cháu, em lóngngóng, tha cho nó, đànông đạilượng.

Ai ngờ chữ Đạilượng làm Nhược tứctối, nó nghĩ Bật xỏ nó.

Nó bảo, ông lôi con ông mà Đạilượng, tôi dạy thằng này.

Bật nói, “Cậu, thế không ổn”.

Nhược nói, “Mẹ thích tao đánh mày không?”

Cuộc chiến nổ. Khángiả rất đông. Có người muốn bênh Nhược, lại hãi Bật.

Nhược đấm. Bật vừa tránh vừa cười, hai ba phút tung đòn một lần bốp, huỵch, huỵch. Nhược cắm đầu bờ tường, thụt chân xuống cống, chống tay vào cứt gà.

Bật đánh khéo. Nhược không đổ máu, nó vừa tấncông vừa kêugào.

Một lúc, Bật đuối, trán đỏ lựng, mồhôi đầy má, áo ướt đầm. Nhược tỉnh như không, nhảy nguềnhngoàng, chưởngcước chả theo miếng nào, chửi rất dữ.

Thốtnhiên, Bật nghiến tay giáng một cú cực mạnh. Nhược văng xa, nằm bẹp mấy giây, xong ngóc cổ chửi tiếp.

Bật bảo, tao thua mày, nhóc ạ.

Và kéo họctrò vào Lò, sập cửa.

Nhược dậy, tìm thằng em đánh tiếp.

***

Sau vụ đánh nhau, Nhược thù Bật, kể xấu Bật khắp Xóm, nhưng dân Xóm biết chuyện, chỉ ậmừ.

Bật gọi trẻ quanh vùng tới Lò, dạy võ miễn tiền, nhưng lệnh chúng tẩychay Nhược, chúng nghe cả.

Những nhà thường thuê Nhược cũng gửi con học Bật. Bọn này tẩychay Nhược luôn.

Nhược hạ giá một gánh nước còn một điếu thuốc, vẫn không ai vời.

***

Nhược thu địabàn hoạtđộng về gần nhà.

Mười sáu tuổi, Nhược gây thêm vụ ầmĩ, quả này với hàngxóm.

Tộinghiệp Nhược. Như một kẻ hènmọn truyềnkiếp, bảnnăng nó là phảnkháng tấtcả những nhỏnhặt mà nó tưởng ngườiđời nhạo nó.

Hàngxóm có con mèo hoạn béo chơi trên nóc chuồngxí bị điện giật rơi nhào bấttỉnh.

Người trong nhà hét, “Mẹ thằng nào bắn vỡ đầu con Tu Tu rồi”.

Nhược có thằng em thạo bắn súng caosu, liền độnglòng sửngcồ.

Lại nổ cuộc chiến, sau vài bài chửi của Nhược.

Nhà hàngxóm ngót chục tên trai to xác. Nhà Nhược hầuhết gái, mỗi Nhược nghênhchiến. Nó chả sợ. Mất gì phải sợ?

Và Nhược chẳng thua, dù không thoát khỏi trọngthương, băngbó cả tuần.

Xóm hãi Nhược. Nó dạt khu khác kiếm ăn.

***

Đầu năm, Nhược bảo mẹ, con xây nhà lấy vợ.

Chiềuchiều, Nhược gánh về xỉ than, vôi cục, các thứ vặtvãnh gom nhặt trong ngày cày mướn. Một tuần nó dành một buổi sàng cát, tôi vôi, đóng gạch. Nhiều tuần, nó sảnxuất được đống gạch lớn, mót được mấy tạ ximăng, hố cát vàng, bó tre tươi, và một cuộn giấy-dầu mới.

Nhược nói, “Đủ, nghỉ làm, xây nhà”.

Xin mẹ góc vườn, Nhược tự đào móng, trộn vữa, và tự xây bằng một chiếc bay rỉ. Việc này nó có khiếu, tường xây vuôngvức.

Khi bốn bức tường cao quá vai, gạch hết. Nhược đổ vật ra nền nhà tươnglai.

Ôm cuộn giấy-dầu trong tay, nó khóc. Những cú đánh của Bật và lũ trai hàngxóm không ănnhằm cú đánh của sốphận. Nó đã thấy mình yếuớt xiết bao.

***

Nhược không nói chuyện xây nhà cưới vợ nữa. Cha mẹ anh chị em nó cũng thôi cười bốn bức tường không cửasổ, giờ mốc đen như trải đã vạn năm.

Bữa rồi, Nhược mơ một cơn mơ hồng rực. Nó liền mua xổsố và trúng một giải vừaphải. Nó quyếtđịnh làm ngay hai việc. Việc thứ hai, tìm Bật xin học võ. Người ấy xứng bậc Thày.

XÓM THỐI (IV)
THU THIỆT THÒI

Nhiều lần xinlỗi và nàinỉ, Nhược mới được Bật nhận nhập Lò.

(Dừng bốt câu vìu)

(Hải Phòng 1992)

***

Chúthích by An Hoàng Trung Tướng

Phụlục

Danhsách Từ Dính trong bài:

– Chuyệntrò: (Chuyện trò).
– Giađình: (Gia đình).
– Sinhhoạt: (Sinh hoạt).
– Tằntiện: (Tằn tiện).
– Laođộng: (Lao động).
– Trầnđời: (Trần đời).
– Kháchhàng: (Khách hàng).
– Thượngđế: (Thượng đế).
– Cóthể: (Có thể).
– Tivi: (Ti-vi).
– Đươngnhiên: (Đương nhiên).
– Giađình: (Gia đình).
– Túngbấn: (Túng bấn).
– Xíchmích: (Xích mích).
– Ngụcư: (Ngụ cư).
– Giatruyền: (Gia truyền).
– Rầmrập: (Rầm rập).
– Vâmváp: (Vâm váp).
– Trắngtrẻo: (Trắng trẻo).
– Nóinăng: (Nói năng).
– Lịchthiệp: (Lịch thiệp).
– Hạnhục: (Hạ nhục).
– Lóngngóng: (Lóng ngóng).
– Đànông: (Đàn ông).
– Đạilượng: (Đại lượng).
– Tứctối: (Tức tối).
– Khángiả: (Khán giả).
– Tấncông: (Tấn công).
– Kêugào: (Kêu gào).
– Mồhôi: (Mồ hôi).
– Nguềnhngoàng: (Nguềnh ngoàng).
– Chưởngcước: (Chưởng cước).
– Thốtnhiên: (Thốt nhiên).
– Họctrò: (Học trò).
– Ậmừ: (Ậm ừ).
– Tẩychay: (Tẩy chay).
– Địabàn: (Địa bàn).
– Hoạtđộng: (Hoạt động).
– Ầmĩ: (Ầm ĩ).
– Hàngxóm: (Hàng xóm).
– Tộinghiệp: (Tội nghiệp).
– Hènmọn: (Hèn mọn).
– Truyềnkiếp: (Truyền kiếp).
– Bảnnăng: (Bản năng).
– Phảnkháng: (Phản kháng).
– Tấtcả: (Tất cả).
– Nhỏnhặt: (Nhỏ nhặt).
– Ngườiđời: (Người đời).
– Hàngxóm: (Hàng xóm).
– Chuồngxí: (Chuồng xí).
– Bấttỉnh: (Bất tỉnh).
– Caosu: (Cao-su).
– Độnglòng: (Động lòng).
– Sửngcồ: (Sửng cồ).
– Hàngxóm: (Hàng xóm).
– Hầuhết: (Hầu hết).
– Nghênhchiến: (Nghênh chiến).
– Trọngthương: (Trọng thương).
– Băngbó: (Băng bó).
– Chiềuchiều: (Chiều chiều).
– Vặtvãnh: (Vặt vãnh).
– Sảnxuất: (Sản xuất).
– Ximăng: (Xi-măng).
– Vuôngvức: (Vuông vức).
– Tươnglai: (Tương lai).
– Hàngxóm: (Hàng xóm).
– Ănnhằm: (Ăn nhằm).
– Sốphận: (Số phận).
– Yếuớt: (Yếu ớt).
– Cửasổ: (Cửa sổ).
– Xổsố: (Xổ số).
– Vừaphải: (Vừa phải).
– Quyếtđịnh: (Quyết định).
– Xinlỗi: (Xin lỗi).
– Nàinỉ: (Nài nỉ).

Danhsách Từ Ghép trong bài:

Vợ-suýt-cưới
Không-đầu-lọc
Đòn-gánh
Móc-gánh
Giấy-dầu

***



Bạn nghĩ gì về bài viết này?

XÓM THỐI (#2)

LƯU Ý: MỌI SAOCHÉP PHẢI GHI RÕ NGUỒN VÀ TÁCGIẢ

*Truyện ngắn by Hoàng Tuấn Dũng*

XÓM THỐI (II)
PHÁO RAN MÙA CƯỚI

Từ đận lão Sửu về Xóm và được vìnể, dân Xóm bày tục mới: Mâm Trầu Ăn Hỏi của thanhniên Xóm phải có Tượng Lão Sửu.

Con tượng đặt chạm trước cả tháng, kíchcỡ chai sâmbanh, bôi đủ năm màu đỏ xanh vàng đen trắng. Mốt hiệnnay là tượng Ông Lộc.

Riêng Ăn Hỏi của thằng Hạng chơi con tượng khác thường: Một tay trai áodài khănxếp cưỡi ngỗng vàng xách chùm cau đỏ, giá hai chiếc xeđạp Tàu.

Hạng chuyên làm than (*). Sáng, nó kéo xe xuống mương Cầu Nứa, đánh đầy xe bùn về sân sau Chùa Họa (**). Trưa, nó trộn bùn với than cám và nắm những nắm than hình đống phân trâu, phơi khắp Chùa.

Các sư ông sư bà không kháng. Hạng từng túm đầu một đồngbào trót dẫm than nó, vừa vả vừa chửi rất hiểm, “Mày trọc bố cũng có chỗ túm phạng hộc máu mồm”. Mẹ Hạng nói, “Nương Phật Mô Phật, khi nào không phải đun than tôi bắt con tôi dọn Chùa sạch lìlì, cái thằng Hạng cục thế nhưng chửa giờ bẻ tượng đập hương”.

Bôlão Xóm bảo bà Hạng xưa Phật Tử chínhtông, đốn từ hồi ông Hạng ở tù. Cha Hạng mắc tội lợidụng tựdo tínngưỡng chốngđối chínhquyền, bị dẫn đi Cảitạo và chết trên Rú.

Chiều, nắm than xong, Hạng để trần ra quán Bà Thí, gọi bát cháo lòng húp xìxoạp.

Mũi chấm vào cháo nóng, con chuột bắp tay chạy lên chạy xuống, da đỏ như vịt quay thừa phẩm, Hạng được cô Lan Chột tống tình.

Cô Lan bốn hai tuổi, hơn Hạng mười tuổi, chưa chồng, chột do một vụ ghentuông. Cô nghiện ăn tiết-canh, nhà khò vàng, khá giàu (***).

Cô Lan thường khoe hai kỳtích. Một, cô là người đầutiên của Xóm nạo thai, thời ông Điền (Giámđốc Bệnhviện Sản) còn tậptành hộlý. Hai, cô ăn tiết-canh nhanh nhất Miền Bắc, nhanh hơn đànông uống bia, bốn bát/phút. Cô đã uống máu một vạn lợn.

Hạng đồngý thành chồng cô Lan.

Cô Lan giao tiền Hạng sắm Ăn Hỏi, Hạng nghĩ ra hìnhmạo gã trai cưỡi ngỗng vàng.

***

Thằng trai nói.

“Sao em trụi này?”.

“Đú sớm không mọc chứ sao”.

“Em đây lâu chưa?”.

“Mới. Hôm thằng chồng em đe cưới vợ. Nay nó Ăn Hỏi, tí pháo đìđùng cho xem”.

“Đẹp này sao nó bỏ?”.

“Đẹp mài mà ăn. Nó già em mười lăm tuổi. Chơi nhau bốn năm. Tay nó bằng chân anh. Hêhê. Thathiết phết. Nhưng lấy nó, vợchồng nặn than con mút xỉ à. Cốt nó nhớ mình. Nó quên cũng buồn. Anh chơi Túi không?”.

“Túi gì?”.

“Haha Ông Ngố trộm vợ đi gái. Chơi Túi tí trả bà Oanh hai ngàn”.

“Thôi chả cần”.

“Ờ mà cần chó gì. Bệnh Bé hai mũi thuốc khỏi. Bệnh To đằng nào cũng ngỏm. Chỉ sợ bệnh chết đếch chết được, mà đau ngứa laidai. Nhở”.

“Anh không biết”.

“Anh đúng chả biết gì. Em thích anh. Thôi Ông Ngố, đi Túi vào”.

Pháo nổ tìtạch. Mùa cưới bắtđầu. Hàng loạt trẻcon sẽ chào đời sau dăm tháng. Ai nấy cười tươi. Ngẫm đâu một thếgiới đang thèm khóc.

XÓM THỐI (III)
NƯỚC MẮT ĐÁ

Đứa trai vừa chuyệntrò với vợ-suýt-cưới của thằng Hạng là thằng Nhược.

Nhược mười bảy tuổi, bé choắt, chăm, ngu có tiếng.

Trước, Nhược chuyên gánh nước thuê cho những giađình nghèo không tiền lắp nước máy hoặc thuê bơm nước, lại yếu sức và sinhhoạt tằntiện.

Laođộng của Nhược rẻ nhất trầnđời: khoản ngang hai điếu thuốc không-đầu-lọc cho một gánh bốn mươi lít nước từ bể xa trăm rưởi mét.

Thương hay quý, cũng không ai trả hơn. Kháchhàng của Nhược chẳng phải Thượngđế.

(Dừng bốt câu vìu)

(Hải Phòng 1992)

***

Chúthích by An Hoàng Trung Tướng:

(*) Làm Than: Hay Nắm Than, thuộc côngnghiệp chếtác than đun bếp. Là một lãnhvực kinhtế phổthông thời Thiênđàng 198x, khi 50% số bếp đun của các giađình Lừa xài than bùn (50% còn lại xài bếp rạ, bếp củi, bếp mùn, bếp dầu, 0% xài bếp điện, bếp gaz, kểcả giađình lãnhtụ).

(**) Xe: Ý nói Xe Cảitiến, phươngtiện vậntải 2-bánh kéo-tay đadụng thời Thiênđàng 198x, bigiờ vưỡn thịnhhành tại Hànội II.

(***) Khò Vàng: Nghề tuyệtđỉnh caocấp thời Thiênđàng 198x, chiên dùng đèn-khò Acetylene khò kiểmtra “tuổi” dững quả nhẫn vàng traođủi buônbán của Lừa Gộc.

Phụlục

Danhsách Từ Dính trong bài:

– Vìnể: (Vì nể).
– Thanhniên: (Thanh niên).
– Kíchcỡ: (Kích cỡ).
– Sâmbanh: (Sâm banh).
– Hiệnnay: (Hiện nay).
– Áodài: (Áo dài).
– Khănxếp: (Khăn xếp).
– Xeđạp: (Xe đạp).
– Đồngbào: (Đồng bào).
– Lìlì: (Lì lì).
– Bôlão: (Bô lão).
– Chínhtông: (Chính tông).
– Lợidụng: (Lợi dụng).
– Tựdo: (Tự do).
– Tínngưỡng: (Tín ngưỡng).
– Chốngđối: (Chống đối).
– Chínhquyền: (Chính quyền).
– Cảitạo: (Cải tạo).
– Xìxoạp: (Xì xoạp).
– Ghentuông: (Ghen tuông).
– Kỳtích: (Kỳ tích).
– Đầutiên: (Đầu tiên).
– Giámđốc: (Giám đốc).
– Bệnhviện: (Bệnh viện).
– Tậptành: (Tập tành).
– Hộlý: (Hộ lý).
– Đànông: (Đàn ông).
– Đồngý: (Đồng ý).
– Hìnhmạo: (Hình mạo).
– Đìđùng: (Đì đùng).
– Thathiết: (Tha thiết).
– Vợchồng: (Vợ chồng).
– Laidai: (Lai dai).
– Tìtạch: (Tì tạch).
– Bắtđầu: (Bắt đầu).
– Trẻcon: (Trẻ con).
– Thếgiới: (Thế giới).
– Chuyệntrò: (Chuyện trò).
– Giađình: (Gia đình).
– Sinhhoạt: (Sinh hoạt).
– Tằntiện: (Tằn tiện).
– Laođộng: (Lao động).
– Trầnđời: (Trần đời).
– Kháchhàng: (Khách hàng).
– Thượngđế: (Thượng đế).
– Chúthích: (Chú thích).
– Côngnghiệp: (Công nghiệp).
– Chếtác: (Chế tác).
– Lãnhvực: (Lãnh vực).
– Kinhtế: (Kinh tế).
– Phổthông: (Phổ thông).
– Thiênđàng: (Thiên đàng).
– Kểcả: (Kể cả).
– Lãnhtụ: (Lãnh tụ).
– Cảitiến: (Cải tiến).
– Phươngtiện: (Phương tiện).
– Vậntải: (Vận tải).
– Đadụng: (Đa dụng).
– Bigiờ: (Bi giờ).
– Thịnhhành: (Thịnh hành).
– Tuyệtđỉnh: (Tuyệt đỉnh).
– Caocấp: (Cao cấp).
– Kiểmtra: (Kiểm tra).
– Traođủi: (Trao đủi).
– Buônbán: (Buôn bán).

Danhsách Từ Ghép trong bài:

Tiết-canh
Vợ-suýt-cưới
Không-đầu-lọc
2-bánh
Kéo-tay
Đèn-khò

***



Bạn nghĩ gì về bài viết này?

XÓM THỐI (#1)

LƯU Ý: MỌI SAOCHÉP PHẢI GHI RÕ NGUỒN VÀ TÁCGIẢ

Hoàng Tuấn Dũng là nhóm viên Văn Bựa.

Trung Tướng giớithiệu một tácphẩm cô cổ đặng thayđủi khôngkhí Bựa Mần Xiền sôisục sôisục.

XÓM THỐI

*Truyện ngắn by Hoàng Tuấn Dũng*

Xóm Thối là địadanh đáng thamquan nhất của Thànhphố Các Nhânvật ta sắp gặp. Bởi lý gì? Mời nghe dõi.

Cưdân đầutiên của Xóm Thối là Tổ họ Lê, nguyên tên ghi trong bia thờ là Lê Ban, chả rõ có phải tên thật không.

Nên nhắc điều này, vì các nhà-làm-sử vẫn chưa nhấttrí hai vấnđề:

1. Lê Ban giới nam hay giới nữ?

2. Lê Ban lập Xóm Thối (Ấp Thối, Làng Thối) tự baogiờ?

Các nhà-làm-sử già khẳngđịnh Lê Ban là nữ, lập Xóm từ năm 102 (Không Ngàn Một Trăm Lẻ Hai), dựa trên truyềnthuyết, cadao, hòvè.

Các nhà-làm-sử trẻ phảnbác dựa trên luậncứ:

1. Tượng thờ Lê Ban ngực lép, có ria mép, hai bên ngự hai hầunữ. Lê Ban phải là nam.

2. Cây đa cạnh lăng Lê Ban 2500 tuổi. Lê Ban phải cũ hơn nó. Bởi đa là giống cây thiêng, người trồng mới mọc, chim muông hổ báo chỉ gieo được tầmcỡ si trở xuống, như khoailang, dưahấu.

Sử cãi nhau nhiều, và còn cãi nữa. Nhưng thôi, đàng nào khẩu Họ Lê cũng chiếm số chính ở Xóm. Mặt khác, đám sửsách cả trẻ lẫn già nói trên đã nhấttrí Xóm Thối là Lỗ Đẻ Thànhphố. Điểm này đáng tựhào rồi.

Xóm Thối đã vài lần thay tên: Tiểukhu An Nguyên, Phường Lê Ban.. Tên nào cũng hay, nhưng dân Xóm không ưa lối bángbổ tổtiên mức đó. Giờ đến Xóm hỏi ngách X ngõ Y Phường Lê Ban chắc sẽ bị trỏ ra dãy vệsinh côngcộng. Bôlão Xóm bảo Thối là tên vợ hoặc chồng hoặc con cả Cụ Tổ.

Xóm Thối có những tiệmăn với đủ món xuyên đêm, từ Sâm Lình Dê, Lê Cậng Khỉ caocấp, tới Lợi Trâu Nướng, Mũi Chó Hầm bìnhdân.

Xóm Thối có những hội Bàn Lá, Tẩu Tôm, Xóc Đĩa kinhniên, khiến lắm cha dulạc Anh Quốc Pháp Quốc còn viết thư hỏithăm hay gởi Bài Tây về tặng.

Xóm Thối có những Phòng Trà mêly, vídụ Lan Chiêu Quán, chốn tiêudao thimộng của những vị biết tìm khácbiệt.

Tấtnhiên, Xóm Thối có nơi phụng Phật và tộcthánh Lê Ban: Chùa Họa.

Và Xóm Thối có những chuyện buồn.

XÓM THỐI (I)
CHỈ BÁN KIỆT TÁC

Cách nay chưa lâu, dân Xóm ít ai nhớ lão Sửu. Một tay già dở nết không thấy mặt bảy tám năm trời chẳng đáng bậntâm hơn con mèo què cóthể bẫy về đánh nồi Rựa Mận.

Lão Sửu từng là kho truyện của Xóm những tối rách việc. Truyện lão như đào lên từ nền đất hai ngàn năm. Lão phán chỗ có giếng đá Tổ. Lão tả những vụ cướp đồng đen trong Chùa Họa. Lão vẽ sơđồ hầm trốn lính thời Thế Chiến..

Lão Sửu không vợ con. Họ chết hay bỏ lão đi không ai rành.

Lão có nghề kiếm sống: Chạm những con tượng gỗ nhiều màu. Tượng lão đẹp vôngần, mỗi con mỗi vẻ.

Sảnphẩm lão bán không chạy, chúng quá đắt.

Lão gạ bán cho trẻcon Xóm, chả đứa bé nào dạidột đổi mười bữa xôi sáng lấy Ông Hộ Pháp đao xanh mão đỏ.

Lão mang gạ bán cho khách viếng Chùa Họa.

Ai chẳng biết hồi chục năm về trước khách vãn chùa đông vắng? Rặt giàlàng gầy ốm mắt dài lệ tưởng một thuở xaxăm rước kiệu Bà trảy Hội, xin lộc Cô ăn dưới gốc lan vàng.

Những già ấy mua tượng lão Sửu vì điều nhânđức mót nơi cổng Phật.

Lão Sửu là kẻ bán hàng khéoléo. Lão nói, “Bẩm Cụ, Cụ đón một Ông đặt đầu giường-hộp, ngó một lần, nhớ nước Phật trên Giời” (*).

Khách nói, “Hàng bác thật đẹp, tôi một con”.

Lão Sửu lại nói, “Cụ đón thêm Ông nữa cho các cháu ở nhà?”.

Khách trảlời, “Đẹp quá, trẻ nghịch phí đi”.

Có thời, lão Sửu tập chế những con tượng xấu. Nhưng chế xong chưa nhấc khỏi giá sơn, lão đã đập nát.

Lão nói, “Nghĩ Ông Tượng mình đứng cạnh con tòhe mà xâyxẩm”.

Ngườita bảo, đói chết mẹ, sĩdiện.

***

Lão Sửu bỏ Xóm. Một đôi vợchồng tuổi mười bảy mười tám tiếpquản cái gậm lều của lão.

Tới kỳ ta chăm Lễ Bái.

Người nhớ lão Sửu bảo, khổ lão Sửu chả còn đây bán tượng. Bọn nhãi giờ quẳng đống tiền mua mấy cái vòng xương.

Người lại bảo, hàng Tây Tàu làm bằng máy đầy, vừa đẹp vừa rẻ, lão cạnhtranh sao nổi.

Người khác bảo, lão ănmày trong Sế Công, đáng kiếp.

***

Gần Tết năm rồi, bỗngdưng lão Sửu về Xóm.

Phổngphao, béotốt, lão mặc áo len ghi ngoài sơmi cổ cứng, thắt càvạt, thật trẻ so tuổi lão bảy mươi.

Lão tậu một nhà to đầu Xóm, thuê chục thằng choaichoai về đẽo đục suốt ngày.

Lão vẫn hành nghề của lão. Tây, Kiều vào ra nhộnnhịp.

Lão kể lão langbạt xó hè nách chợ hai năm, nhưng chưa baogiờ chịu làm thứ đồchơi kiểu ngựa bìa chân dây thép.

Lão nói, “Chỉ Bán Kiệt Tác”.

XÓM THỐI (II)
PHÁO RAN MÙA CƯỚI

Từ đận lão Sửu về Xóm và được vìnể, dân Xóm bày tục mới: Mâm Trầu Ăn Hỏi của thanhniên Xóm phải có Tượng Lão Sửu (**).

Con tượng đặt chạm trước cả tháng, kíchcỡ chai sâmbanh, bôi đủ năm màu đỏ xanh vàng đen trắng. Mốt hiệnnay là tượng Ông Lộc.

Riêng Ăn Hỏi của thằng Hạng chơi con tượng khác thường: Một tay trai áodài khănxếp cưỡi ngỗng vàng xách chùm cau đỏ, giá hai chiếc xeđạp Tàu.

(Dừng bốt câu vìu)

(Hải Phòng 1992)

***

Chúthích by An Hoàng Trung Tướng:

(*) Giường Hộp: Giường ngủ thịnhhành của Lừa 198x.

(**) Ăn Hỏi: Một côngđoạn quantrọng trong chuỗi nghithức cướicheo của Lừa.

Phụlục

Danhsách Từ Dính trong bài:

– Giớithiệu: (Giới thiệu).
– Tácphẩm: (Tác phẩm).
– Thayđủi: (Thay đủi).
– Khôngkhí: (Không khí).
– Sôisục: (Sôi sục).
– Địadanh: (Địa danh).
– Thamquan: (Tham quan).
– Thànhphố: (Thành phố).
– Nhânvật: (Nhân vật).
– Cưdân: (Cư dân).
– Đầutiên: (Đầu tiên).
– Nhấttrí: (Nhất trí).
– Vấnđề: (Vấn đề).
– Baogiờ: (Bao giờ).
– Khẳngđịnh: (Khẳng định).
– Truyềnthuyết: (Truyền thuyết).
– Cadao: (Ca dao).
– Hòvè: (Hò vè).
– Phảnbác: (Phản bác).
– Luậncứ: (Luận cứ).
– Hầunữ: (Hầu nữ).
– Tầmcỡ: (Tầm cỡ).
– Khoailang: (Khoai lang).
– Dưahấu: (Dưa hấu).
– Sửsách: (Sử sách).
– Nhấttrí: (Nhất trí).
– Tựhào: (Tự hào).
– Tiểukhu: (Tiểu khu).
– Bángbổ: (Báng bổ).
– Tổtiên: (Tổ tiên).
– Vệsinh: (Vệ sinh).
– Côngcộng: (Công cộng).
– Bôlão: (Bô lão).
– Tiệmăn: (Tiệm ăn).
– Caocấp: (Cao cấp).
– Bìnhdân: (Bình dân).
– Kinhniên: (Kinh niên).
– Dulạc: (Du lạc).
– Hỏithăm: (Hỏi thăm).
– Mêly: (Mê ly).
– Vídụ: (Ví dụ).
– Tiêudao: (Tiêu dao).
– Thimộng: (Thi mộng).
– Khácbiệt: (Khác biệt).
– Tấtnhiên: (Tất nhiên).
– Tộcthánh: (Tộc thánh).
– Bậntâm: (Bận tâm).
– Cóthể: (Có thể).
– Sơđồ: (Sơ đồ).
– Vôngần: (Vô ngần).
– Sảnphẩm: (Sản phẩm).
– Trẻcon: (Trẻ con).
– Dạidột: (Dại dột).
– Giàlàng: (Già làng).
– Xaxăm: (Xa xăm).
– Nhânđức: (Nhân đức).
– Khéoléo: (Khéo léo).
– Trảlời: (Trả lời).
– Tòhe: (Tò he).
– Xâyxẩm: (Xây xẩm).
– Ngườita: (Người ta).
– Sĩdiện: (Sĩ diện).
– Vợchồng: (Vợ chồng).
– Tiếpquản: (Tiếp quản).
– Cạnhtranh: (Cạnh tranh).
– Ănmày: (Ăn mày).
– Bỗngdưng: (Bỗng dưng).
– Phổngphao: (Phổng phao).
– Béotốt: (Béo tốt).
– Sơmi: (Sơ-mi).
– Càvạt: (Cà-vạt).
– Choaichoai: (Choai choai).
– Nhộnnhịp: (Nhộn nhịp).
– Langbạt: (Lang bạt).
– Baogiờ: (Bao giờ).
– Đồchơi: (Đồ chơi).
– Thanhniên: (Thanh niên).
– Kíchcỡ: (Kích cỡ).
– Sâmbanh: (Sâm-banh).
– Hiệnnay: (Hiện nay).
– Áodài: (Áo dài).
– Khănxếp: (Khăn xếp).
– Xeđạp: (Xe đạp).
– Thịnhhành: (Thịnh hành).
– Côngđoạn: (Công đoạn).
– Quantrọng: (Quan trọng).
– Nghithức: (Nghi thức).
– Cướicheo: (Cưới cheo).

Danhsách Từ Ghép trong bài:

Nhà-làm-sử: (Nhà làm sử).
Giường-hộp: (Giường hộp).

***



Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Phần tư thế kỷ (#2)

LƯU Ý: MỌI SAO CHÉP PHẢI GHI RÕ NGUỒN VÀ TÁC GIẢ

(Phần 1 xem ở đây)

Phần tư thế kỷ (Tiếp)

*Truyện Ngắn By Hoàng Tuấn Dũng*

chương hai

Năm 1967, lúc cuộc chiến của chúng ta với người Mỹ tới hồi khốc liệt nhất, cha tôi dẫn hai anh em tôi theo cơ quan ông sơ tán về làng Vía, Thái Bình. Mình mẹ tôi ở lại Thành Phố.

Vía cách biển 18 cây số, một nông thôn châu thổ đặc thù. Trong tôi còn nguyên màu trời hè hồng hồng và vị ngọt đòng lúa nếp. Nhà mái rạ tường đất trình bằng vồ và nền đất nện bằng đầm. Trưa không tiếng người. Hương dành dành đêm tuôn ma quái.

Tôi sẽ không miêu tả tiện nghi. Những năm 60 người ta coi khinh tiện nghi, tuy cũng thèm.

Mấy ngày đầu, ba cha con tôi trọ nhờ cụ Thàng. Cụ Thàng quãng ngoài sáu chục, từng xung lính Pháp đánh Đức. Cụ Thàng nói quê gốc Vía, mà tuyệt nhiên không có họ mạc. Cụ sống ngăn nắp, hơi kỹ tính. Cha hay gặng cụ về Châu Âu, cụ lảng rất khéo. Cha nói cụ đang tuân thủ các quy tắc chính trị tế nhị.

Rời nhà cụ Thàng, cha con tôi dọn đến một gian vốn là kho Chùa Vía.

Chùa Vía quanh năm vắng lặng. Tôi sợ dúm mỗi khi cố dòm qua khe cửa gỗ sơn nâu đỏ vào hậu đường mờ tối lố nhố gươm đao phụng hạc. Tôi nghĩ mình chết phòi mật nếu bị giam mươi phút trong ấy. Tôi kinh gớm bóng thoắt ẩn thoắt hiện của Sư Cụ. Bản mặt như củ sắn chưa bóc vỏ, dài đườn lởm chởm. Áo thâm phất lệt xệt.

Trai Vía ra trận hết, trừ Trung Đít Vịt. Ngón tay bóp cò của Trung cụt hai đốt.

Cúp tóc đít vịt, dận quần ống tuýp, Trung hội đủ hai chất du côn điển hình, và được Cấp Ủy xếp hạnh kiểm Chậm Tiến.

Trung tuổi Sửu, sinh 1949. Cha mẹ Trung bị tịch thu vườn ruộng hồi 1954 nên gia cảnh chả mấy khấm khá. Trung có một anh trai đóng công binh, bốn chị gái muộn chồng.

Già làng đe trẻ con: Cấm chúng mày theo Trung Đít Vịt. Đe phụ nữ: Dờ hồn chúng mày theo Trung Đít Vịt. Đe nẹt của phụ lão không xuất phát từ đạo giáo, mà từ lòng đố kỵ, con trai họ đang phơi ngực nơi chiến trận. Đúng thôi.

Một răng cửa của Trung đỏ kệch. Tôi đã nhìn hàng vạn bộ răng, chưa gặp chiếc thứ hai giống. Trung hay nhe trêu con Hương em tôi, Hương nhe răng sún trêu lại: Lêu Trung ăn xôi ứ đánh răng. Anh em tôi vô tư, Trung cầu thị, tình bạn vong niên cần nhất hai điều này. Trung bảo: Dân phố bọn mày thích thật. Và chúng tôi mến nhau.

Tôi thua Trung mươi tuổi, đang học lớp Hai. Trung bỏ học đã vài năm.

Trung nói: Dân phố bọn mày học tận đẩu đâu, xã tao lớp bảy hết cứt, lão Vịnh lớp ba, lão Tấn lớp hai, lão Tròn lớp hai. Tôi nhớ ông Vịnh là Chủ Tịch, ông Tấn Bí Thư, ông Tròn Xã Đội Trưởng.

Buổi sáng Vía tuyệt thú. Tôi dậy sớm do tiếng trâu va sừng lộc cộc và mùi khói rạ vừa chua vừa hôi vừa ngái phát nghiện. Các cô chú cơ quan Cha tập thể dục đùa lao xao.

Tôi chọn bát to hơn trong hai bát cơm rang Cha xới sẵn, chan mắm ăn veo.

Xỏ áo may-ô, tôi chạy tìm Trung.

Trung và tôi ra bãi sông Hóa, chỗ Trung đặt bẫy bắt cò lửa đêm trước. Gỡ chú cò nằm thất thần khỏi bẫy, Trung bẻ chéo cánh và bọc bùn. Tôi mói đất sét nặn một bếp lò, nhặt phân ngựa phân bò quả phi lao khô xếp đầy lò. Trung đốt lò và phồng mồm thổi. Lò cháy đượm nổ bép bép. Trung vừa sáo mồm bài Thuyền Xa Bến Lòng Lưu Luyến vừa nướng con cò. Trung bảo: Đắp bùn thế, thiêu sống như ru ngủ, ấm dần ấm dần chín thơm, Em Ơi Em Ơi Em Chả Đau Trái Tim Lẻ Loi hứ hư hứ hư hứ hư. Quả thực, con cò không ngọ nguậy.

Trung bảo: Cò ngon là mùi giang hồ, thằng dân phố ạ. Ngửi bựa răng. Thôi thối. Thinh thích. Mùi giang hồ đấy ha ha ha.

Chúng tôi ăn con cò, mút tay chụt chụt.

Trung bảo: Giờ ngô luộc nhá thằng dân phố.

Chúng tôi đột ruộng ngô Hợp Tác Xã.

Trung nói: Mày ngồi động tĩnh gì ho ba cái nhá.

Tôi thấy một bóng đàn bà sâu trong ruộng ngô. Chị đang ỉa. Trung luồn rất nhanh và vật chị. Chị lăn một vòng.. Giãy.. Thẳng đuỗn.. Mông trắng.. Vác chân ngang mặt.. Mông vẫn trắng.. Rồi Trung cài xanh-tuya. Chạy.

Chúng tôi không kịp trộm ngô, hộc tốc chạy. Về vườn Chùa, Trung thở phụt phịt: Nhanh hơn súc họng. Tôi hỏi: Ai? Trung cười: Đàn ông không bép xép. Tôi im.

Trung hỏi: Mày tình chưa? Tôi im.

Trung hỏi: Tình đứa nào? Tôi nói: Cái Hằng.

Trung hỏi: Hằng nhà Tinh? Tôi gật.

Trung hỏi: Hôn chưa? Ối giời. Tao hộ nhá?

Tôi vội nói: Đừng. Trung lại hỏi: Mày tình nó thế nào? Tôi bảo: Nó ngồi trên, em nhìn gáy nó. Trung cười ha ha ha.

Buổi chiều, tôi đi học. Cô giáo Xuân tôi thanh thoát, ngực to ủng, nói ngọng. Hằng hơn tôi một tuổi, đeo coọc-xê giống cô Xuân, nhưng ngực mỏng dí. Hằng là con bác Tinh.

Giải lao, Hằng đếm chim sâu trên cây bàng, tôi chơi cờ nhảy.

Trung gọi: Hoàng Hoàng. Tôi chào Trung. Trung nói: Đố mày tát con Hằng.

Tôi đến sát Hằng, tát khẽ.

Hằng phủi má, nguýt dài: Cái cu Hoàng này.

Buổi tối, thằng Hà em Hằng gọi: Hoàng ơi trận giả đê trận giả đê. Tôi nói: Tớ làm Toán xong từ nãy. Và liếc Cha, đợi ông bảo, nghịch vừa thôi.

Nhưng Cha bảo: Roi đâu? Tôi chột dạ. Con Hương bắng nhắng lật chiếu giường ngủ, rút cái roi tre đưa Cha nịnh bợ. Tôi nằm úp xuống chõng, thầm đe em gái, tí tao bấu chết mày.

Cha quát: Tên gì? Tôi mếu: Thưa bố con tên Lê Hoàng ạ.

Cha tiếp: Con ai?

Thưa bố con con bố Lê Cường con mẹ Hoàng Vinh Thủy ạ.

Anh ai?

Thưa bố con anh em Lê Vinh Hương ạ.

Nhớ chưa?

Tôi sụt sịt: Thưa bố con nhớ ạ.

Cha vụt roi thứ nhất: Tại sao sáng đày nắng, mặt đỏ gay đỏ gắt?

Không chờ tôi trả lời, ông vụt roi thứ hai: Đi không hỏi, bom ầm ầm biết đâu mà lần? Tôi khóc to.

Roi thứ ba: A dua bọn du côn, lớn thành thằng ăn hại. Tôi nín.

Roi thứ tư, thứ năm, thứ sáu: Đồ bất hiếu, đồ không thương bố mẹ, đồ em cái Hương. Tôi nấc, biết trận đòn đã xong.

Kẻng đổ dồn. Người chạy rậm rịch. Ông Tròn hô: Con Mai con Lới giữ trung liên, bỏ mười hai ly bảy tao.

Cha tắt phụt ngọn đèn dầu, lôi anh em tôi ra hầm kèo sau Chùa. Trong hầm có Hằng, bác Tinh trai, bác Tinh gái. Bác Tinh gái kêu: Cái thằng Hà.

Máy bay người Mỹ bay xẹt, đinh tai. Súng Vía bắn rẹt rẹt hai ba loạt. Cha nói: Đánh Thành Phố. Giọng ông run lo âu. Em tôi ti tỉ: Mẹ ơi ời mẹ Thủy ơi ời. Cha ghì nó và bóp tay tôi. Tôi quên sáu nhát roi, thương ông vô hạn.

Phía Thành Phố lòe sáng. Các kiểu nổ nối nhau bụp bụp. Mẹ chắc đang bịt tai hoặc cáng các bệnh nhân của bà.

Mùi trầm nhạt nhạt. Bác Tinh trai nói: Mấy ông sư bà sư, hầm không trú. Cha nói: Ngửi nhang vững dạ hơn anh ạ, bà cụ em hồi tản cư đổi ba đôi hài lấy bó nhang.

Hằng tì chân tôi, tôi gẩy nhẹ, mà tiếc nghẹn.

Người Mỹ không kích hai mươi phút, xong rút. Súng Vía chào họ bằng hai loạt đạn nữa.

Kẻng báo yên chậm rãi. Người í ới. Bác Tinh trai chui khỏi hầm, hét tướng: Hà ơơi. Tiếng thằng Hà: Con đây thây. Bác Tinh tát ngay bốp bốp bốp, tôi khoái lắm.

Cuối tháng, Mẹ thăm chúng tôi, khao ăn tươi. Tôm rảo rang, riêu cá giếc, rau ghém hoa chuối, dưa chuột. Tôi ăn bốn bát, con Hương ăn hai, Cha ăn sáu. Mẹ ăn bát rưỡi, luôn tay tiếp thức ăn. Bà cười rạng rỡ, đuôi mắt răn reo. Bà 28 tuổi.

Mẹ sai tôi biếu Sư Cụ gói mì sợi. Tôi vòng cửa hông Chùa, gõ bằng cườm tay. Sư Cụ xịch cửa. Tôi muốn sụn gối. Tôi nói: Cụ, mẹ cháu biếu Cụ gói mì ạ. Sư Cụ nói: Vào ta bảo. Tôi rụt rè qua bậu cửa. Sư Cụ bảo: Sao con sợ? Tôi ngập ngừng. Sư Cụ nhắc: Sao con sợ? Tôi nói: Cháu sợ gươm mới cả đao mới cả tối. Sư Cụ cười méo xệch: Con sợ điều hoang phế. Tôi chẳng hiểu.

Trung gặp Mẹ bảo: Sau em lấy người như chị. Mẹ đáp: Cậu lấy cô Lới xinh hơn phim. Trung nói: Con Lới trực chiến ngủ dạng tè he ai thèm.

(Dừng câu vìu theo thông lệ)

*By Hoàng Tuấn Dũng*

(May 1994)

*Nạp bựa bởi An Hoàng Trung Tướng @2009*



157 phản hồi

Phần tư thế kỷ (#1)

LƯU Ý: MỌI SAO CHÉP PHẢI GHI RÕ NGUỒN VÀ TÁC GIẢ

Hoàng Tuấn Dũng là nhóm viên Văn Bựa.

Chân chọng giới thiệu một tác phẩm Không Bựa để thay đủi không khí Quán Bựa.

Phần tư thế kỷ

*Truyện Ngắn By Hoàng Tuấn Dũng*

chương một

Tôi có một kỷ vật thời chiến, chiếc thẻ bài lính Mỹ. Tôi đã không cố giữ nó. Nó sót qua hàng chục lần chuyển nhà, thải đồ hư, chẳng rõ nhờ sự gia ân nào. Tôi từng vứt sọt rác vô khối thứ to nghĩa hơn, cuống huân chương dán cắn, phù hiệu gãy kim cài, đĩa hát, vân vân, trong khi nó thậm chí còn không trọn dạng một chiếc thẻ.

Đó là một mẩu nhôm mỏng méo, bằng già nửa kích thước nguyên thủy. Phần non nửa kia của nó bị mảnh bom hay đạn cao xạ xé văng.

Hồi bé, tôi thường bỏ làm bài, giở tự điển dò nghĩa mấy chữ trên nó:

..RT M
..973 841
..ERAN

Những bận đấy, nếu không phải chịu bợp tai, cha tôi vốn sính cách ép học của các bậc hủ nho, tôi lại được dịp bay múa vào một thế giới riêng.

Thế giới bé con của tôi đơn điệu và hiếu chiến như của tất cả bé con cùng lứa. Tôi tình báo hai tay bốn súng, lần theo đường ngầm dưới sào huyệt bọn Phỉ, nhờ tài đoán mật mã ở miếng nhôm mẻ, đã kịp cứu đồng đội hy sinh, và đoạt tài liệu Địch. Đại để vậy.

Năm năm, mười năm, mười lăm năm. Chiến tranh và tuổi dại nhạt dần, tôi sợ chết như tất cả người lớn. Mộng tình báo hết thời. Chiếc thẻ trở lại đúng nó, không thi vị, không kích động. Một vật chứng trơ trẽn nên quên.

Năm 1991, tôi rủ anh bạn tên Nhân buôn lậu thuốc phiện. Mèo rừng cắn hút chết trên Lìn Căng Chải, công an trạm V6 bắt giam hai tuần, và nhiều biến cố hãi hồn nữa, khiến Nhân nản. Nhân đòi nhập hội buôn di vật Mỹ.

Tôi không tán thành Nhân. Nhưng khi Nhân đem tôi xem chiếc cán dao chạm dòng chữ DAWNT DALLAS 122943, nói rằng mua nó hết 10 Đô và sẽ bán 20,000 Đô tại Hương Cảng, thì tôi lập tức bị lôi cuốn. Nhân giảng, DAWNT là tên chủ con dao, DALLAS là quê anh ta, số 122943 là ngày sinh 29/12/1943.

Lúc ấy tôi chưa biết mẩu nhôm của mình là một chiếc thẻ bài. Tôi lục tìm nó trong hộp dụng cụ cơ khí, mang khoe Nhân. Nhân bảo ngay: Nửa cái thẻ, số lính 973841. Khoái quá, chúng tôi rao bán nó chỗ mấy tay buôn khét tiếng như Sô Bắc Cạn, Hùng Phỏm. Bọn này chê nó không đủ tiêu chuẩn một di vật đáng giá.

Năm kia, 1992, Nhân chào tôi vượt biên sang Hương Cảng. Tôi lấy bút chì căn ke chiếc thẻ lên tờ giấy dày. Gói tờ giấy bằng ny-lông, tôi giao Nhân kèm lời dặn: Có gì nhớ báo. Nhân bặt tin. Tôi thấp thỏm mãi.

Cuối năm ngoái, tôi tập tọng môi giới chất phóng xạ cùng Tịnh, một cậu em họ xa. Việc đổ bể, tôi với Tịnh hỏng ăn. Tịnh ngượng, nhủ tôi bày keo khác. Đưa tôi một tấm ảnh màu, Tịnh bảo tôi bán, hoa hồng 20%.

Xoay tấm ảnh, tôi ngỡ ngàng. Ảnh chụp mấy xương người. Tịnh cười: Xương Mỹ, một cân sáu, hai mươi triệu. Tôi bốc: Tao vừa bán cái thẻ Mỹ bảy triệu. Chúng tôi siết tay nhau.

Bộ xương trong tấm ảnh của Tịnh gồm bốn ống xương lớn màu vàng nâu, dài quãng 30-35cm, bốn ống xương nhỏ 15-20cm, lẫn ít xương vụn, đặt cạnh cái thước thợ mộc và mẩu kim loại lấp lánh, một đống mảnh sọ nâu sẫm, một đống mùn nâu đen, hai chiếc răng hàm. Lót bộ xương là hai tờ báo Nhân Dân mới và một tờ báo Thái Bình cũ bẩn.

Nhìn tấm ảnh, loại thám tử dốt nhất cũng suy đoán, nó chụp bởi thứ máy tự động hạng bét và gã thợ hạng bét không biết luật phối cảnh, tại một nhà dân Thái Bình.

Tôi bỗng tin kinh khủng rằng mẩu kim loại giữa đống xương vô danh nọ đã rách từ chiếc thẻ của tôi.

Tôi soi kính lúp, không xem rõ mẩu kim loại, đành tìm Tịnh. Tôi hỏi: Đúng xương mày? Tịnh gật đầu. Tôi bảo: Tao liếc cái thẻ tí. Tịnh chậc lưỡi, kêu ngại. Tôi cười: Đếch phải của mày. Tịnh nói: Ảnh hưởng mẹ gì. Tôi cãi: Không số lính, biết xương Mỹ hay xương bò? Tịnh thần người. Tôi bảo: Mày chỉ tao thằng chủ gốc, tao tính. Tịnh cáu. Hắn nghi tôi định qua mặt.

Tôi tự ái, trả Tịnh tấm ảnh, nhưng nhớ kỹ thông tin cần thiết.

Bì đựng tấm ảnh màu vàng chanh, góc trái in nhãn Công Ty Dịch Vụ Văn Hóa, dưới ghi:

– Số hóa đơn: 1195
– Họ tên: Ô Sửu
– Ngày trả hàng: (để trống)
– Nội dung: (để trống)

Tôi đến Công Ty Dịch Vụ Văn Hóa, lân la hỏi chuyện cô Nhung tiếp viên. Nhung nói công ty cô chỉ dùng loại bì ảnh màu vàng lửa, loại vàng chanh là của đám thợ chui mượn nhãn, chẳng hạn hiệu ảnh số 66 phố ĐP, số 55 phố TP, số 3 Vườn Hoa Chéo.

Tôi tìm ba hiệu ảnh Nhung mách. Ông Bỉnh, chủ hiệu 55 TP, hào hiệp tra sổ, nhận đã rửa hai ảnh cho một người tên Sửu vào ngày 16/5/1993, hóa đơn lưu số 1195.

Tôi hỏi ông Bỉnh: Chú nhớ biển xe tay Sửu không? Ông Bỉnh hỏi lại: Mày biết tao một năm bao khách? Xong ông tiếp: Ba ngàn, ba, ngàn, đứa, con ơi. Tôi thất vọng. Ông Bỉnh hỏi: Mày bên Điều Tra? Tôi bảo không. Ông Bỉnh nói: Rỗi hơi dò thằng ấm ớ. Tôi khai thật: Nó chụp quả xương người. Ông Bỉnh bảo: Tuần nào tao chả rửa ảnh xương cốt, ghê đít. Tôi nói bừa: Thằng này bần nông chốc mép, giọng Thái Bình. Ông Bỉnh bảo: A tao nhớ, nó có cái răng đỏ, lấm lét như du kích.

Tôi bật reo: Trung Đít Vịt, Trung Đít Vịt. Ông Bỉnh lườm. Tôi cười nịnh: Cám ơn chú, rất cám ơn.

Tôi mua biếu ông Bỉnh một chai vang nội, và đi Thái Bình ngay.

(Dừng câu vìu theo thông lệ)

*By Hoàng Tuấn Dũng*

(May 1994)

*Nạp bựa bởi An Hoàng Trung Tướng @2009*

(Phần 2 xem ở đây)



210 phản hồi